|
Đó
là tổ giáo viên đầu tiên và duy nhất
trong
cộng
đồng những người mắc bệnh phong ở
Thái Bình đã dệt lên một câu
chuyện cổ
tích...
Làng phong ngày
ấy...
Làng
phong Văn Môn ở Vũ Vân, Vũ Thư, Thái Bình
được thành lập vào năm 1960 như một
lẽ cứu rỗi, nơi để những con người
bất hạnh trên mọi miền đất nước cùng
nương tựa vào nhau trước sự kì thị
của mọi người.
Nhắc
về Văn Môn, người dân nơi đây vẫn
ngậm ngùi nhớ về quá khứ. Họ kể
rằng, trước những năm đổi mới, làng
phong Văn Môn sống biệt lập với thế
giới bên ngoài. Văn Môn như một ốc đảo
cô đơn, nằm gần sát sông Hồng, có
một vòng đê bao quanh, người dân ngày
này qua ngày khác không bước ra khỏi
luỹ tre làng. Những người mắc bệnh
phong mặc dù đã được chữa khỏi
bệnh nhưng họ không trở về quê cũ
nữa phần vì bị mọi người xa lánh,
phần vì họ coi Văn Môn là quê hương
thứ hai nên đã ở lại đây, tạo lập
cuộc sống.
Ông
Lê Văn Phương, một trong những công dân
đầu tiên thành lập làng phong cho biết:
Ông mắc bệnh năm lên 10 tuổi và gắn
bó với ngôi làng này từ khi nó chưa có
tên. Ngày xưa đói khát, cuộc sống gia
đình ông “cơm không đủ no, mặc không
đủ ấm”, chỉ bữa khoai bữa sắn cho
qua ngày.
Cuộc
sống của những người bệnh quả
giống như địa ngục nhưng con cái của
họ cũng bất hạnh không kém. Không có
ngôi trường nào nhận con em bệnh nhân
phong vào học vì sợ lây nhiễm. Bệnh
phong bị coi là căn bệnh “tứ chứng
nan y”, còn gọi là bệnh “cùi” hay
bệnh “hủi”. Vì vậy, những đứa
trẻ chào đời và mù chữ... Cuộc
sống của chúng quanh quẩn với những
buổi mò cua bắt ốc, mót khoai mót sắn...
lao động kiếm miếng cơm manh áo là
việc duy nhất chúng biết làm.
Rồi
một ngày, những người thanh niên mắc
bệnh phong từ nhiều nơi khác về đây
điều trị, đã nảy ra ý tưởng thành
lập lớp học để xoá mù chữ. Tổ giáo
viên ra đời vào năm 1955, với 40 giáo
viên “cây nhà lá vườn” còn rất
trẻ. Ban đầu, công việc của tổ tập
trung vào dạy bổ túc văn hoá cho những
cụ già trong làng. Mười năm, tạm xoá
mù chữ cho thế hệ “cây đa, cây đề”,
tổ chuyển hướng sang dìu dắt lớp
trẻ. Năm 1965, những người giáo viên bước
lên bục giảng, dạy những con chữ đầu
tiên cho con cháu của mình.
Bác
sỹ Bùi Huy Thiện - Giám đốc Bệnh
viện rất tự hào chia sẻ: “Chống
chọi với bệnh tật cấu xé cơ thể,
lấy đi từng đốt ngón tay, ngón chân...
nhưng những người giáo viên vẫn ngày
hai buổi đến lớp mà không có bất
cứ một đồng lương nào. Ngày đó nghèo
làm gì có tiền mà bồi dưỡng. Con em làng
phong thành đạt ngày hôm nay đều là
nhờ vào những người giáo viên ấy”.
“Đói
cơm, đói gạo nhưng không thể đói
chữ”- đó là quyết tâm của cả làng
Văn Môn ngày ấy. Ai cũng nghĩ: đời
họ đã khổ, các con họ phải có gì khác.
Đầu tiên đó là cái chữ!
Những thầy
giáo “cùi”
Đích
thân bác sỹ Thiện dẫn tôi đến gặp
gỡ những người giáo viên năm xưa. Bây
giờ chỉ còn 14 giáo viên, hầu hết đều
ở cái tuổi “thất thập cổ lai hy”,
mái tóc bạc trắng màu thời gian nhưng
vẫn làm thơ, vẫn ca hát, vẫn thủ
thỉ với nhau về những bữa liên hoan
ngày 20-11 sắp tới.
Bà
Phạm Thị Ngọ, gần 30 năm dạy mầm
non trò chuyện: “Cực lắm cô ơi, bọn
trẻ nó thèm học nên cứ chiều chiều
đi bắt cua đồng về, đứa nào cũng
lấm lem nhưng vẫn cố đi đường vòng
ra chân đê len lén nhìn trẻ con làng khác
đi học về. Nghĩ tội nghiệp nên chúng
tôi bảo nhau mở lớp dạy chúng mấy
chữ cho bằng bạn bằng bè, chí ít cũng
phải viết được cái tên mình, biết tính
toán mà tính kế sinh nhai chứ”.
Nghề
“gõ đầu trẻ” vốn nhọc nhằn và
với những người giáo viên mắc bệnh
phong thì nhọc nhằn hơn gấp bội. Cơ
thể họ bị ăn mòn dần, có những người
bị cắt chân, liệt tay, mắt loà phải
đeo kính, chống nạng... đi dạy học.
Ngày ấy khổ, trợ cấp Nhà nước cho
bệnh nhân, họ dành để chăm con, còn mình
thì bữa no, bữa đói. Rồi cái việc
nắn chữ cho bọn trẻ thì gian nan vô cùng.
Tay thầy cô cụt từng đốt, thậm chí
cả bàn mà vẫn tỳ sát những đôi tay
học sinh lành lặn, uốn nắn từng nét
chữ.
Ông
Phạm Như Trù, một trong những người
giáo viên “cùi” khởi xướng phong trào
dạy học trong làng trò chuyện: Ông quê
ở Hưng Yên, vừa học hết lớp 5 thì
phát hiện mình mắc bệnh phong, đến
1955 thì vào Văn Môn điều trị. Và ngay
trong năm đó ông bắt đầu nghề dạy
học. Thời gian đầu đôi tay còn nguyên
vẹn, ông cầm bút, phấn bằng tay phải,
một vài năm sau tay phải cụt dần chỉ
còn vài đốt, ông luyện viết tay trái,
vài năm sau nữa chân phải ông cũng bị
rụng, ông chống nạng lên bục giảng...
Vợ
ông, bà Nguyễn Thị Canh - cũng là bệnh
nhân phong, nói thêm: “Tôi cũng bảo ông
ấy sao cứ “cơm nhà vác tù và hàng
tổng”, ngày thì đi dạy, tối lại
soạn giáo án, gầy rạc người đi, nhưng
ông ấy chả nghe, bảo tôi rằng vì ông
ấy là thầy giáo... Nói thế thì tôi
chịu, cũng cố mà làm vài sào ruộng nuôi
ông ấy dạy học thôi chứ biết làm
sao”.
Ngày
đó lớp học không nhiều, mỗi năm,
tổ dạy 8 lớp, từ mẫu giáo đến
lớp 4, mỗi lớp chỉ khoảng 12-15 học
sinh. Văn Môn ngày ấy như mở hội. Có
lẽ vì đi học vui và cái chữ nó lạ nên
trẻ em làng Văn Môn thích thú lắm, chúng
chẳng thiết tha gì đi kiếm cái ăn
nữa mà chỉ nhăm nhe đến lớp học
thầy. Ngày nắng đội mũ rơm, ngày mưa
đội lá chuối, con đường làng nhỏ xíu
vẫn cứ ríu rít tiếng cười nói rôm
rả của các em học sinh.
Ông
Trần Văn Định, 77 tuổi, 30 năm dạy
học thấy tôi hỏi về kỉ niệm trong
nghề, kể lại: “Nhớ nhất là cái
buổi học tiếng Việt, một em học sinh
đứng lên dõng dạc hỏi: “Sao thầy
viết tên bố em lên bảng?”. Lúc đó
vừa buồn cười lại vừa vui vì hiểu
rằng thế là chúng cũng đã biết đánh
vần, biết đọc chữ rồi. Ngày đó nói
thật với cô chúng tôi chỉ nghĩ cố
gắng cho các cháu biết cái chữ chứ có
dám mong gì chúng được học cao đâu vì
đến ra xã học cũng khó, nói gì được
đi đây đi đó. Thế mà chẳng ngờ
bọn trẻ có chí và tài thật”.
Học
sinh làng Văn Môn ngoan và học giỏi
chẳng thua kém gì học sinh làng khác. Có
tới gần trăm học sinh thi đỗ vào các
trường đại học, cao đẳng rồi có người
làm tiến sĩ, giáo viên, bác sỹ, nhà báo...
Hôm nay Văn Môn “thay da đổi thịt” cũng
nhờ một phần sự đóng góp của
những người con thành đạt, đang làm
việc trên mọi miền Tổ quốc. Hơn 70%
số hộ trong làng có nhà xây mái bằng
kiên cố với nhiều trang thiết bị gia
dụng hiện đại, đường làng được bê
tông hoá len lỏi tới từng hộ gia đình,
nhiều công trình phúc lợi được xây
dựng khang trang sạch sẽ, tất cả các
hộ trong làng đều được sử dụng nước
sạch... Trẻ em đến tuổi đi học đều
được đến trường, không có em nào
bỏ học.
Con
đường làng thẳng tắp, cánh đồng lúa
mênh mông nặng trĩu hạt được dòng sông
Hồng đỏ nặng phù sa bồi đắp in
dấu gương mặt hạnh phúc của những
người giáo viên lặng lẽ 30 năm dạy
học, 30 năm cống hiến cho sự nghiệp
giáo dục, dìu dắt biết bao những nhân
tài cho đất nước mà không nhận một
đồng lương, không một chế độ...
Hà Vân
(Lớp
Đại học liên kết báo chí khóa 1
Trường
CĐ Phát thanh Truyền hình 1)
<<<
Quay lại |